Hơn 300 khách mời là các chuyên gia, đại diện các doanh nghiệp, các hiệp hội và cơ quan quản lý đã tham gia sự kiện này. Đây là cơ hội quý để trao đổi các vấn đề thời sự trong đời sống kinh doanh, các vấn đề liên quan đến chính sách, chia sẻ những kinh nghiệm quản lý, điều hành ở góc độ doanh nghiệp. Các vấn đề được đặt ra nhằm cũng nhằm mục tiêu gắn kết các thông điệp chính sách và thực tiễn kinh doanh trong giai đoạn nền kinh tế khó khăn và nhiều biến động.
|
Chuyện thiết thực của doanh nghiệp về "đổi mới để tồn tại và phát triển" là chủ đề của diễn đàn. Ảnh: Thanh Hảo
|
Phát biểu khai mạc diễn đàn, ông Nguyễn Xuân Minh, quyền Tổng biên tập báo Sài Gòn Tiếp Thị, chia sẻ: "Diễn đàn kinh doanh thường niên lần thứ 4 diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế còn đối mặt với rất nhiều thử thách. Các doanh nghiệp Việt Nam phải đương đầu với muôn vàn khó khăn sau giai đoạn dài kinh tế rơi vào suy thoái. Đặc biệt, hệ thống ngân hàng vẫn còn nhiều bất cập trước các áp lực về đổi mới và tái cơ cấu trong quá trình chuyển động chung để tồn tại, phát triển và gánh vác trọng trách là huyết mạch của nền kinh tế. Chính vì vậy câu chuyện thiết thực của doanh nghiệp về "đổi mới để tồn tại và phát triển" là chủ đề của diễn đàn hôm nay".
Tại diễn đàn, các chuyên gia cùng đưa ra các vấn đề liên quan đến tái cấu trúc nền kinh tế, những thách thức đòi hỏi phải cải cách mạnh mẽ và triệt để. Tuy nhiên động lực cho cải cách lại đang có khuynh hướng giảm, hoặc mất dần sự đồng thuận và quyết tâm. Những tồn tại cố hữu của nền kinh tế được TS. Nguyễn Đức Thành, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách, đề cập trong báo cáo về bức tranh kinh tế vĩ mô 2013, liệu Việt Nam có bỏ lỡ những lựa chọn mới cho phát triển?
TS. Trần Đình Thiên, viện trưởng viện Kinh tế Việt Nam, đặt ra các vấn đề về mô hình tăng trưởng kinh tế. Trong bức tranh kinh tế vĩ mô nhiều biến động, các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp cần có sự lựa chọn thông minh hơn cho quá trình phát triển. Vậy cần mô hình tăng trưởng mới ra sao để thoát khỏi mô hình truyền thống đang dựa vào khai thác tài nguyên và sản xuất gia công lắp ráp; khai thác lao động tiền công rẻ và năng suất thấp.
Việc tái cấu trúc nền kinh tế lâu nay được xem dựa trên ba trụ cột chính: hệ thống ngân hàng, đầu tư công và doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên giữa chủ trương và thực hiện là khoảng cách rất lớn, khiến cơ hội cho các doanh nghiệp tư nhân trở nên rất hẹp, đặc biệc các doanh nghiệp nhỏ và vừa lại càng xa vời. Cần phải mở rộng quyền tự do kinh doanh, làm cho thị trường vận hành tốt hơn trong việc phân bố và sử dụng tổng thể các nguồn lực. TS. Nguyễn Đình Cung, phó viện trưởng viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương sẽ đưa ra những thực trạng đáng suy ngẫm.
Từ những vấn đề trên, các cuộc tọa đàm tại diễn đàn lần này đầu xoay quanh thực tế xoay trở của các ngân hàng, doanh nghiệp ra sao để tồn tại và phát triển. Mỗi đại diện đưa ra cách tiếp cận khác nhau trong việc kiến giải, hoạch định đối sách tại chính doanh nghiệp mình.
|
Cộng đồng doanh nghiệp trải qua một thời kỳ kinh tế suy thoái kéo dài. Ảnh: Thanh Hảo
|
Đổi mới phải bắt đầu tư tư duy và đổi mới chính sách
TS.Nguyễn Đức Thành, giám đốc trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách, cho rằng sự tồn tại là vấn đề đang đặt ra đối với doanh nghiệp Việt Nam, bản thân doanh nghiệp chịu sức ép về thay đổi, và tự thân họ đã phải thay đổi. Tuy nhiên, để đổi mới, đòi hỏi lớn nhất là bắt đầu từ sự đổi mới củavề tư duy và đổi mới chính sách. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp và người dân sẽ tự mà hoạch định cho mình.
Dữ liệu tăng trưởng và lạm phát giai đoạn 1995-2012 cho thấy, năm 2007 là thời điểm quan trọng. Sau khi tăng trưởng ở đỉnh cao, kinh tế Việt Nam từ 2007 bắt đầu đó giảm dần xuống, từ khoảng 10% trong suốt thập niên trước đó, bắt đầu giảm dần - còn khoảng 5%. Trong khi đó, chỉ số lạm phát tăng lên đến 20%, lạm phát tích lũy chịu sự tác động của chính sách tín dụng dễ dãi. Theo TS. Thành, bất ổn kinh tế vĩ mô đã bắt đầu từ những năm đầu thập niên 2000.
Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO là sự kiện nỗ lực trong nhiều năm với sự đồng thuận mạnh mẽ giữa chính phủ, doanh nghiệp và người dân. Nhưng câu chuyện không đúng như vậy, Việt Nam sau đó đã không lấy lại đà tăng trưởng, hiện vẫn còn đang thể hiện sự bất nhất về chính sách. Mâu thuẫn giữa giữa cải cách trong nước không đi kịp diện biến mới của nền kinh tế, những xung đột càng dẫn đến hiện trạng ngày hôm nay.
|
TS. Nguyễn Đức Thành, giám đốc trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách.
Ảnh: Thanh Hảo
|
Mâu thuẫn lớn chính là tư duy hội nhập mà vẫn duy trì theo ý chí của chúng ta, nền kinh tế bị dẫn dắt bởi các doanh nghiệp nhà nước. Về xã hội, nền kinh tế có sự kiểm soát chặt chẽ theo định hướng nhà nước là sai lầm trong việc duy trì phát triển kinh tế hậu WTO. Những mô hình Vinashin, Vinalines hay Vietnam Airlines hiện nay đều cho thấy họ thất bại trong môi trường kinh doanh mới. Bởi bản thân những doanh nghiệp khổng lồ không còn nguồn ra trong khi phát triển với một cấu trúc nóng vội và thiếu bền vững. "Hình dung của chúng ta về kinh tế sau WTO đã sai lầm, không chuẩn bị được nền tảng để phát triển một mô hình kinh tế bền vững. Chúng ta học theo mô hình chaebol của Hàn Quốc nhưng chúng ta không biết rằng để thành công, mô hình này đã trải qua nhiều va đập của gia đình và xã hội Hàn Quốc".
Trong khi nền kinh tế muốn phát triển được phải dựa vào nền kinh tế tư nhân, đặc biệt khối doanh nghiệp nhỏ và vừa nhưng các doanh nghiệp này thiếu cơ hội phát triển bởi sự phân bổ nguồn lực đã tập trung vào tập trung vào doanh nghiệp nhà nước. Nền kinh tế thiếu tính cạnh tranh và năng suất lao động của toàn nền kinh tế đang bị suy giảm dần theo từng giai đoạn.
Vậy bức tranh kinh tế năm 2013 sẽ ra sao sau khi đã trải qua 5 năm khủng hoảng? Theo TS.Thành, lạm phát tiếp tục khuynh hướng giảm, giúp nới rộng dư địa chính sách, tuy nhiên tăng trưởng suy giảm nghiêm trọng, đặc biệt là sức sống của các doanh nghiệp. Những rủi ro lạm phát quay trở lại vẫn đang đe dọa nền kinh tế do các yếu tố căn bản không bền vững. Trước lộ trình tự do hóa, Việt Nam có nguy cơ bị giới đầu tư quốc tế bỏ rơi, trong khi về nội tại, các động lực cho cải cách đang có khuynh hướng giảm, hoặc mất dần sự đồng thuận và quyết tâm.
Nợ xấu vẫn là vấn đề cốt lõi của hệ thống tài chính và toàn bộ nền kinh tế bởi gắn liền với các chính sách cho thị trường bất động sản. Các chính sách khác gây ra những bất ổn tiềm tàng như chính sách về ngoại hối, về vàng và đặc biệt là các chính sách trợ cấp, kiểm soát giá, kích thích kinh tế thiếu cơ sở. Như vậy Việt Nam đang đứng trước thức thách của những cải cách thực sự. Cần lựa chọn các quan hệ chiến lược thông qua con đường hội nhập vào các tổ chức và liên kết kinh tế mới.
Muốn phát triển phải thoát ra khỏi mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên và nguồn lao động giá rẻ
TS. Trần Đình Thiên, viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam, nhận định rằng quá trình phát triển vừa qua của Việt Nam đã dựa vào cách thức tăng trưởng đầy rủi ro với chính sách bơm tiền liên tục vào nền kinh tế. "Nền kinh tế tăng trưởng đã phải đánh đổi bằng lạm phát, nếu không có quyết tâm đổi mới mạnh thì cái giá phải trả cho sự tăng trưởng này sẽ rất đắt".
Nền kinh tế Việt Nam duy trì được một tốc độ khá cao trong một thời gian khá dài. Tuy nhiên, quá trình tăng trưởng đó có hai đặc trưng nổi bật và nghịch lý. Một là tính không bền vững. Hai là chậm nâng cấp về trình độ và chất lượng. Nói cách khác, nền kinh tế đã chịu duy trì quá lâu trong mô hình “giá trị gia tăng thấp”, dựa vào khai thác tài nguyên và sản xuất gia công lắp ráp.
|
TS. Trần Đình Thiên: "Nền kinh tế tăng trưởng đã phải đánh đổi bằng lạm phát, nếu không có quyết tâm đổi mới mạnh thì cái giá phải trả cho sự tăng trưởng này sẽ rất đắt".
Ảnh: Phan Quang
|
Nhiều nền kinh tế dựa vào quỹ đạo phát triển hiện đại dựa vào việc khai thác tài nguyên để tạo cơ sở tăng trưởng ban đầu nhưng họ đã thoát bẫy tăng trưởng dễ dàng, vượt qua nó để chuyển sang nấc thang phát triển cao hơn – nấc thang công nghiệp chế biến, chế tạo dựa vào liên tục nâng cấp và đổi mới công nghệ. Nhưng Việt Nam đã rơi vào “bẫy tăng trưởng” bởi chọn cách thức tăng trưởng quá dễ dàng, không có những nỗ lực đặc biệt và kiên trì.
Năm 2012, toàn nền kinh tế xuất siêu nhưng nhập siêu từ thị trường Trung Quốc lên đến 16 tỉ USD, cảnh báo sự phụ thuộc của nền kinh tế vào một thị trường và dựa vào nhập khẩu nguyên vật liệu. Nếu không xây dựng được nền công nghiệp hỗ trợ thì không hội nhập được vào nền kinh tế toàn cầu, sẽ phải "hát một mình" trong bức tranh chung của thế giới. Chính sách này cũng sẽ làm cạn kiệt nỗ lực của các doanh nghiệp.
Mặt khác, nền kinh tế đã tăng trưởng nóng do tín dụng được bơm ra ồ ạt trong thời gian kéo kéo dài. Dữ liệu những năm qua cho thấy tốc độ tăng trưởng tín dụng đáng kinh ngạc của Việt Nam: trong cùng một giai đoạn, chỉ có Việt Nam duy trì đường đồ thị tăng trưởng tín dụng “dốc đứng” trong khi các nước khác đều “đi ngang” hoặc “lao dốc”. Có thể nói đây chính là căn nguyên của tình trạng hiệu quả sử dụng vốn thấp, lạm phát cao, bất ổn kéo dài trong nền kinh tế mấy năm qua.
Nguyên nhân sâu xa từ chính công thức phát triển, theo nền kinh tế thị trường nhưng thiếu sự tường minh. Hiện nay muốn phát triển đòi hỏi các yếu tố tiên quyết: quay trở lại các chính sách đổi mới nhưng với ý chí cao hơn; thúc đẩy cổ phần hóa và chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp tư nhân. "Cơ hội nhiều nhưng không hấp thu được sẽ biến thành tai họa", TS Thiên nói. Trong điều kiện doanh nghiệp kiệt quệ như hiện nay các chương trình phục hồi tăng trưởng phải dài hạn, ít nhất đến 2015.
Thị trường phải dẫn dắt phát triển chứ không phải chính sách phân bổ nguồn lực chi phối nền kinh tế
Theo TS.Nguyễn Đình Cung, phó viện trưởng viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương thì chính sách khuyến khích doanh nghiệp tư nhân phát triển không có cách nào khác là xóa bỏ cơ chế ưu tiên nguồn lực vào doanh nghiệp nhà nước.
|
TS.Nguyễn Đình Cung, phó viện trưởng viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương. Ảnh: Phan Quang
|
Ông Cung cho rằng ổn định kinh tế vĩ mô là cam kết ưu tiên hàng đầu nhưng thời gian qua việc phối hợp chưa tốt, chính sách đưa ra đã không dứt khoát được giữa tăng trưởng ngắn hạn và lạm phát, cũng chưa dứt khoát giữa tổng thể và cục bộ; nên tính ổn định của nền kinh tế mong manh và niềm tin thị trường thấp. Chính sách phân bổ đã vì lợi ích của một nhóm doanh nghiệp chứ không phải toàn nền kinh tế; thiên về hành chính, hơn là thị trường, không thấy động lực mới, không thấy “hy sinh, đánh đổi”, thiếu tính cạnh tranh. Hình như đang có lực lượng vô hình muốn phục hồi và duy trì hiện trạng về phân bố nguồn lực.
Theo ông, thể chế và cách làm cũ vẫn đang chi phối sự phân bố và sử dụng vốn đầu tư nhà nước, chỉ khác về quy mô và số lượng. Nếu các giải pháp không phân bổ lại hiệu quả, sẽ kéo dài thêm tình trạng trì trệ của doanh nghiệp và toàn nền kinh tế; không tạo cơ hội sáng tạo, chuyển tài sản chết thành “vốn sống và lưu chuyển, thúc đẩy sự bừng nở của các cơ hội đầu tư và kinh doanh.
|
Nhiều doanh nghiệp quan tâm các gói tín dụng từ các ngân hàng. Ảnh: Phan Quang
|
Tuy nhiên các thể chế tạo thêm sức ép và đòn bẩy để DNNN hoạt động theo cơ chế thị trường, đòi hỏi ơ cấu lại chuỗi giá trị các sản phẩm Việt Nam có lợi thế cạnh tranh, chuyển dần từ tiểu ngành, sản phẩm hoặc công đoạn sản xuất sử dụng công nghệ thấp, năng suất thấp và giá trị gia tăng thấp sang tiểu ngành, sản phẩm hoặc công đoạn sản xuất có hàm lượng khoa học công nghệ cao, năng suất và giá trị gia tăng cao.
TS. Nguyễn Đình Cung nhận định: "Khu vực doanh nghiệp tư nhân phải củng cố lại sức mình để chờ cơ hội trong vài năm tới".
Hệ thống ngân hàng trước áp lực đổi mới
Hệ thống ngân hàng, huyết mạch của nền kinh tế, những năm qua không ngừng gặp biến động, đối mặt với vấn đề nan giải nợ xấu, sở hữu chéo và rủi ro trong quản trị hệ thống, đòi hỏi tái cấu trúc và đổi mới phương pháp quản trị để tiến tới nền tài chính hiện đại. Từ năm 2012, Nhà nước đã đưa ra các quyết định tái cấu trúc ngân hàng, nằm trong bước chuyển dài lâu để ngân hàng giữ được vai trò trọng yếu của nền kinh tế. Tuy nhiên các ngân hàng vẫn gặp thách thức trong khơi thông nguồn vốn vào kinh doanh sản xuất, đặc biệt vốn cho doanh nghiệp tư nhân. Đại diện các ngân hàng và các chuyên gia tọa đàm chia sẻ kinh nghiệm quản trị rủi ro, các giải pháp kinh doanh lẫn tầm nhìn thị trường.
Tại phiên tọa đàm, ông Đặng Quốc Tiến, phó tổng giám đốc ngân hàng quân đội (MB) cho rằng năm 2012 là khó khăn với định hướng của NHNN cho phát triển tín dụng 15%, nhưng MB vượt mức tăng trưởng này. Năm nay định hướng của NHNN là tăng trưởng tín dụng 12%. Nguồn vốn hiện đang nằm trong ngân hàng rất lớn, gặp những thách thức trong đưa vốn vào nền kinh tế. MB tung ra các gói cho vay với lãi suất cạnh tranh, ưu tiên cho nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, gói cho các doanh nghiệp vừa vào nhỏ.
Ông Lê Quang Chính, giám đốc phòng giao dịch ngân hàng Á Châu (ACB), làm sao để khơi dòng nguồn vốn cho nền kinh tế. "Doanh nghiệp sống được thì ngân hàng mới sống được". Trong khi nguồn vốn thừa nhưng người vay có thỏa yêu cầu hay không. ACB ra các gói hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu; cho vay hộ kinh doanh cá thể. Mục tiêu của ACB là ngân hàng bán lẻ hướng đến các thành phần kinh tế tư nhân và chiến lược "ngân hàng của mọi nhà" trong cả giai đoạn dài hạn chứ không chỉ hiện nay.
|
Ông Atul Malik, tổng giám đốc ngân hàng Hàng hải (phải). Ảnh: Thanh Hảo
|
Tương tự, ông Atul Malik, tổng giám đốc ngân hàng hàng hải (Maritime Bank): cũng cho biết tung ra các gói cho vay đối với doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh cá thể.
Theo ông Tiến, chính sách điều hành tiện tệ hiện đang đặt mục tiêu giảm lãi suất, tuy nhiên nó phụ thuộc nhiều yếu tố: giá đầu vào thế nào, còn chịu chi phối bởi các cách thức can thiệp chính sách lãi suất chứ thực tế chưa phải là kinh tế thị trường can thiệp. Ông Lê Quang Chính cho rằng chính sách lãi suất hiện là mức tương đối phù hợp, quan trọng là cầu vay vốn hay không.
Đánh giá về hệ thống lãi suất Việt Nam hiện nay và tính cạnh tranh ra sao so với lãi suất quốc tế, ông Atul Malik cho rằng, lãi suất đang phụ thuộc vào bốn yếu tố: huy động vốn đầu vào; tổ chức vận hành của doanh nghiệp; ngân hàng đó có khả năng khai thác dịch vụ hiệu quả ra sao, có nhiểu sản phẩm cho khách hàng hay không; chỉ tiêu biên lợi nhuận là bao nhiêu.
Đầu vào vốn huy động hiện đã giảm là điều kiện đưa vốn đến khách hàng. Sau những thách thức 2012, các ngân hàng đã có nhiều thay đổi và dần tăng các lợi ích cho khách hàng. Thách thức hiện nay là sản phẩm dịch vụ nào tăng lợi nhuận cho khách hàng mà ngân hàng có thêm doanh thu.
Theo ông Atul Malik: "Hạ lãi suất sẽ là xu thế diễn ra trong thời gian sắp tới".
Như vậy, các ngân hàng phải quản trị rủi ro như thế nào để phục vụ quá trình phát triển hiệu quả, theo ông Tiến, mỗi ngân hàng đang có những giải pháp riêng cho mình. Theo ông Chính, thời gian qua doanh nghiệp khó khăn từ rất nhiều yếu tố dẫn đến ngân hàng khó. Việc quản trị rủi ro kết hợp nhiều yếu tố, chính sách. ACB ý thức coi trọng đến nợ xấu, tuy nhiên cẩn trọng quá sẽ dẫn đến bảo thủ. "Làm sao để hài hòa giữa xử lý nợ xấu và phục vụ khách hàng. Nhìn sâu hơn, một ngân hàng không thể giải quyết hết vấn đề của cả ngành ngân hàng" – ông Chính nói
Theo ông Atul Malik, ba yếu tố quản trị mà các ngân hàng đang tập trung đó là tính thanh khoản, vốn và tính minh bạch. Biện pháp là tạo ra danh mục tốt và quản lý nợ xấu theo cách tốt nhất, an tâm các yếu tố an toàn và ra các sản phẩm mới đảm bảo khách hàng được kiểm soát về năng lực đồng thời ngân hàng củng cố danh mục cho vay tốt ngay từ đầu. "Khi có nền tảng tốt, sẽ tránh được những rủi ro để có được danh mục tốt cho bước phát triển bền vững"
Tuy nhiên TS.Cung cho rằng những gói vay vài ngàn tỉ của ngân hàng hiện nay như "muối bỏ biển". Việc đầu tiên của ngân hàng là giảm nợ xấu. Giảm nợ xấu chính là giảm gánh nặng cho doanh nghiệp. Nếu giảm được nợ xấu thị trường sẽ tự cân bằng và chúng ta hãy tin thị trường. Khi giải phóng cho doanh nghiệp khỏi gánh nặng tài chính thì thị trường sẽ bật dậy, vì vài gói cho vay không giải quyết được tất cả vấn đề.
Theo TS.Thiên, cần giải quyết rủi ro của ngân hàng trên nền tảng của cả nền kinh tế. Cả doanh nghiệp và ngân hàng cần tránh mục tiêu lợi nhuận lớn nhưng rủi ro cao. Ngân hàng trong phạm vi của mình có chính sách cho vay hỗ trợ để doanh nghiệp tiếp cận. Tuy nhiên chỉ ngân hàng là không đủ, thậm chí vô hiệu. Hai yếu tố mấu chốt là hệ thống vĩ mô phải được thiết kết lại, và hệ thống ngân hàng không thể đơn độc "chiến đấu" để vừa ổn định kinh tế vĩ mô vừa bảo đảm tăng trưởng.
"Theo tôi, các giải pháp của ngân hàng hiện còn ở mức thông thường trong khi cần có giải pháp đặc biệt và đột phá hơn nữa. Về phía doanh nghiệp, họ phải tự làm nhiều hơn chứ không chỉ kêu, tự mình vươn lên và cạnh tranh, không dựa vào ưu đãi chính sách, không thể như "gà công nghiệp" sẽ mất tính cạnh tranh", TS.Thiên nhận định.
Doanh nghiệp tư nhân bị đối xử thiếu công bằng
TS.Nguyễn Đức Thành cho rằng, các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa đã bỏ lỡ nhiều cơ hội phát triển bởi chính sách kinh tế thiếu sự quan tâm; môi trường kinh doanh được tạo lập thiếu sự bình đẳng, gây ra các tác động nguy hiểm về lâu dài cho toàn nền kinh tế. Cách sắp xếp thị trường không giúp các doanh nghiệp cùng tham gia vào chuỗi để tăng giá trị cho toàn nền kinh tế.
Đồng thời khủng hoảng kinh tế đã trở thành cuộc sàng lọc khắc nghiệt của thị trường, những năm qua hàng chục ngàn doanh nghiệp bị phá sản, kinh doanh trì trệ; doanh nghiệp lại phải chống đỡ với những khó khăn thị trường, sức mua suy giảm, khó khăn về đồng vốn lẫn những rào cản thương mại. Nhưng khủng hoảng cũng chỉ ra những mặt tích cực, các doanh nghiệp có sức cạnh tranh, có khả năng thích ứng và nỗ lực đổi mới công nghệ để vượt qua sóng gió.
Ông Đỗ Duy Thái, tổng giám đốc công ty Thép Việt, chỉ ra những chính sách phát triển chỉ cần tạo sự công bằng là tự động doanh nghiệp sẽ phát triển, không cần chính sách hỗ trợ. Tuy nhiên doanh nghiệp tư nhân đang chịu sự đối xử thiếu công bằng, các chính sách phân bổ nguồn lực chủ yếu tập trung cho doanh nghiệp nhà nước; các ưu đãi về thuế, hạ tầng và thu hút đầu tư dành cho khối FDI; trong khi các doanh nghiệp tư nhân không được hưởng các chính sách này và xoay trở chật vật trong môi trường kinh doanh thiếu sự bình đẳng.
|
Ông Đỗ Duy Thái, tổng giám đốc công ty Thép Việt. Ảnh: Thanh Hảo
|
Theo ông Thái, ngành công nghệ điện toán phát triển tạo cơ hội cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ và rút ngắn khoảng cách với đối thủ, tuy nhiên nhưng doanh nghiệp khó khăn ngay ở thị trường nội địa chứ chưa nói vươn ra nước ngoài. Để đạt được quy mô cần thiết 2 triệu tấn/năm như hiện nay, Thép Việt trải qua 15 năm phát triển. Tuy nhiên chính sách phát triển kinh tế chưa coi khu vực tư nhân là mục tiêu chính, và không phát huy được vai trò của đầu tư trong nước hay không. Theo ông Thái, chính sách chưa tạo ra được mấu chốt phát triển. Doanh nghiệp cứ đối mặt với nỗi lo về sự thay đổi chính sách.
Công nghệ cao giúp Thép Việt tiêu hao năng lượng thấp hơn trung bình của ngành đến 30%. Xác định cạnh tranh với Trung Quốc là quan trọng chứ không phải. Doanh nghiệp có cơ hội nhưng chúng ta phải đối phó với quá nhiều khó khăn bởi không có sự công bằng. Cái chết của DNNN không chỉ mất tiền của mà hệ lụy lớn cho các doanh nghiệp tư nhân. "Chỉ cần chính sách vĩ có sự công bằng, các hoạt động thị trường tự điều tiết thì doanh nghiệp sẽ tự khắc phát triển"
Cần hoạch định dài hạn và chuyên nghiệp
Theo ông Dương Ngọc Minh, tổng giám đốc công ty thủy sản Hùng Vương, ngay từ sớm đã có các dự báo khó khăn cho ngành thủy sản, mà khó khăn lớn nát là vấn đề vốn, vốn đã bóp chết các hoạt động sản xuất và nuôi trồng. Từ năm 2011 tín dụng là nút thắt cho doanh nghiệp và người nông dân. Chính sách tiền tệ là vấn để tăng trưởng nóng từ năm 2009 về kích cầu, đẩy lãi suất tín dụng lên làm sức cạnh tranh hàng hóa giảm đi.
Ngân hành hiện giảm lãi suất, nhưng chưa thể giải quyết vấn đề bởi căn nguyên còn ở cách tiếp cận vốn. Điều kiện vay vốn vừa dựa vào phương án còn có tài sản như hiện nay thì doanh nghiệp chỉ có bình chân. Các doanh nghiệp tư nhân sẽ ít chịu mạo hiểm để mở rộng sản xuất.
|
Theo ông Dương Ngọc Minh, ngân hàng hiện giảm lãi suất, nhưng chưa thể giải quyết vấn đề bởi căn nguyên còn ở cách tiếp cận vốn. Ảnh: Thanh Hảo
|
Về nội tại, ngành thủy sản chưa sắp xếp tổ chức lại nguyên liệu, dù điều kiện tự nhiên thuận lợi nhưng thiếu đầu tư về khoa học kỹ thuật. Đặc biệt về con cá tra, phát triển không có sự quản lý. Ở đây trách nhiệm lớn nhất không phải của chỉ từng doanh nghiệp, mà cả ngành cứ theo định hướng tăng trưởng, mục tiêu năm sau cao hơn năm trước mà không nhìn thị trường bán ra, sản xuất mà không biết phương án tiêu thụ. Nếu không có phương án tốt, ngân hàng bơm tiền vào cũng có thể giết nhà sản xuất, nuôi trồng. "Sản xuất và xuất khẩu phải cân bằng cung-cầu", ông Minh khẳng định.
Dựa vào nguồn lực sáng tạo để phát triển
Chia sẻ kinh nghiệm về xây dựng doanh nghiệp công nghệ cao thành công tại một tỉnh nghèo như Trà Vinh được xem là bất hợp lý, ông Nguyễn Thanh Mỹ, sáng lập tập đoàn công nghệ Mylan, cho rằng sự lựa chọn của ông là làm những cái gì cần, thỏa mãn những sáng tạo của chính mình.
|
Theo ông Mỹ, việc phát triển, quan trọng là tập trung vào đầu tư cho nhân lực.
Ảnh: Thanh Hảo
|
Xuất thân từ nhà khoa học, ông Mỹ cho rằng, tiêu chí phát triễn doanh nghiệp dựa vào tôi đội ngũ sáng tạo, năng động và trung thực. MyLan chọn cách tập trung đầu tư vào sở hữu trí tuệ là nguồn vốn luyến của công ty; và chọn thị trường xuất khẩu làm chính để giảm các phụ thuộc vào vốn và nợ.
Theo ông Mỹ, việc phát triển, quan trọng là tập trung vào đầu tư cho nhân lực. Tại Việt Nam nguồn nhân lực được đào tạo thiếu các nền tảng, còn nhiều tiêu cực và không trong suốt vì thế khó tạo ra nguồn nhân lực tốt. "Chúng tôi xây dựng doanh nghiệp trên cả hai yếu tố: sáng tạo và kỷ luật. Điều này mới giúp mình đi xa hơn". Về phía chính sách quản lý nhà nước, Nhà nước không nên can thiệp hành chính quá nhiều vào các hoạt động và vận hành của công ty hàng ngày như hiện nay, để họ yên tâm tập trung cho kinh doanh.
Đổi mới công nghệ để thích ứng với môi trường kinh doanh
Ông Lý Ngọc Minh, tổng giám đốc công ty gốm sứ Minh Long, cho rằng trước khi chờ chính sách hỗ trợ thì doanh nghiệp tự vươn lên bằng nội lực. Việc đầu tư cho công nghệ đã giúp Minh Long những năm qua không ngừng giảm chi phí, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm; đáp ứng được những đơn hàng sản xuất hàng loạt và đa dạng về mẫu mã.
|
Ông Lý Ngọc Minh (phải). Ảnh: Thanh Hảo
|
Theo ông Minh, không có sự đầu tư nào mang lại hiệu quả bằng đầu tư chất xám, tức là đầu tư công nghệ, bởi đầu tư một lần nhưng sở hữu vĩnh viễn và biến sự đầu tư thành "con gà đẻ trứng vàng". Trong thời buổi khó khăn, doanh nghiệp có thể không đầu tư thêm trang thiết bị máy móc bởi phải vay mượn với lãi suất cao. "Hãy tìm kiếm giải pháp mới và tự hỏi với thiết bị hiện có mình đã khai thác hết nó chưa và nhu cầu thị trường hiện đang ở đâu là cách Minh Long đã và đang thực hiện".
Công nghệ chính là con người, để làm được cần kết nối được nhiều người có tâm cùng mong muốn tiến bộ. Mà hạt nhân nòng cốt là người lãnh đạo nhiệt huyết và có trách nhiệm cao. Sự đầu tư công nghệ là cách tốn kém ít nhất, bởi mang lại hiệu quả rất cao trong kinh doanh, kết nối và khuyến khích tạo ra động lực mới cho cán bộ, nhân viên vào cuộc, mang đến văn hóa hợp tác và sức sống mới trong công ty.
Doanh nghiệp Việt Nam bị thiệt kép
Bà Vũ Kim Hạnh, chủ tịch hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao, cho rằng doanh nghiệp Việt Nam những năm qua chịu "thiệt hại kép" bởi chính sách tín dụng khắc nghiệt, những chính sách bôi trơn gây khó khăn rất nhiều trong khi thiếu vắng các chính sách hỗ trợ cần thiết.
|
Bà Vũ Kim Hạnh: "Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay có tính liên kết kém, lại gặp phải thị trường suy yếu sức mua, các chương trình kích cầu không còn hiệu quả."
Ảnh: Thanh Hảo
|
Năm 2012, các doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao đã tổng kết và đưa ra kiến nghị, từ chính sách giảm thuế để giảm gánh nặng doanh nghiệp; kêu gọi chính phủ thực thi các chính sách khuyến khích doanh nghiệp phát triển công nghiệp hỗ trợ, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ; yêu cầu quản lý thị trường chặt chẽ để tạo ra môi trường tốt để sản phẩm có thể cạnh tranh trên thị trường. Yếu tố mà doanh nghiệp mong mỏi là thực hiện chính sách đèn xanh WTO đối với doanh nghiệp, như huấn luyện đào tạo cho doanh nghiệp, cung cấp thông tin nghiên cứu thị trường để doanh nghiệp có thể định hướng….
Cũng theo bà Hạnh, doanh nghiệp Việt Nam hiện nay có tính liên kết kém, lại gặp phải thị trường suy yếu sức mua, các chương trình kích cầu không còn hiệu quả.. Tất cả các yếu tố này khiến các khó khăn chồng chất. Chính sách Nhà nước nhiều năm qua khiến doanh nghiệp không phát huy được tính chủ động, sáng tạo; nhiều doanh nghiệp chọn cách khác như gia công, bán lại doanh nghiệp, bằng cách nào đó mà họ sống, nhưng sống kiểu "hồn Trương Ba da hàng thịt".
Tổng kết diễn đàn kinh doanh thường niên 2013, TS.Nguyễn Đình Cung cho rằng những vẫn đề đề cập tại sự kiện hôm nay cũng chính là câu chuyện nhiều năm qua của nền kinh tế. Chắc chắn doanh nghiệp đã đủ thời tích lũy được những bài học giá trị để suy ngẫm và điều chỉnh hoạt động của mình. Doanh nghiệp cần củng cố lại năng lực quản trị, đặc biệt là các ngân hàng, trước khi có mở rộng phát triển, nếu không sẽ tiếp tục tạo ra những rủi ro mới.
TS.Nguyễn Đức Thành cho rằng, thực tiễn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cho thấy mấu chốt phát triển trong doanh nghiệp là tự lực tự cường, dựa trên năng lực của mình, Tuy nhiên để có đội ngũ doanh nghiệp mạnh, cần một môi trường bình đẳng để vượt qua các khó khăn. Các chính sách vĩ mô cơ bản phải tạo sự công bằng, minh bạch và trong suốt, không can thiệp quá nhiều vào các hoạt động doanh nghiệp. "Tôn trọng thị trường còn ở việc chuẩn bị về con người, một chính sách đào tạo nguồn nhân lực chất lượng và đảm bảo văn hóa phát triển lâu dài" - TS. Thành đúc kết bế mạc sự kiện.
Tuyết Ân (ghi)
|