Đối với giới kinh tế học lý
thuyết, khám phá của Hayek về “phân hữu tri thức” (division of knowledge) có
giá trị có thể sánh ngang với khám phá của Adam Smith về “phân công lao động”
(division of labor). Nếu như phân công lao động là tiền đề để của cải xã hội
được sinh sôi nảy nở, thì phân hữu tri thức lại là tiền đề để phân công lao
động được liên tục phát triển. Khám
phá này được Hayek trình bày rõ ràng trong bài luận “Sử dụng tri thức trong xã
hội” (“The Use of Knowledge in Society”) đăng trên chuyên san American Economic Review năm 1945. Hayek
thấy rằng “tri thức về các hoàn cảnh mà chúng ta bắt buộc phải tính đến không
bao giờ tồn tại một cách tập trung hay hợp nhất, mà chỉ dưới dạng những mảnh
phân tán, không hoàn chỉnh và thường xuyên mâu thuẫn, được sở hữu bởi tất cả
các cá nhân riêng rẽ”. Từ tiền đề này, Hayek rút ra ba kết luận quan trọng: (i)
hoạch định kinh tế tập trung kém hiệu quả hơn so với hoạch định phi tập trung;
(ii) hệ thống giá cả là hệ thống tự phát giúp con người truyền tải tri thức cần
thiết từ người này sang người khác để phối hợp các kế hoạch cá nhân riêng rẽ;
và (iii) các phương pháp tiếp cận dựa trên nền tảng triết học thực chứng không
thể giải quyết được vấn đề kinh tế thực sự của xã hội, tức vấn đề làm thế nào
để có thể sử dụng hiểu quả các tri thức riêng phần.