VEPR trên báo chí
Nhập siêu: Oan cho hàng xa xỉ | Nhập siêu: Oan cho hàng xa xỉ |
|
|
|
[Nhịp cầu đầu tư - 17/5/2010 - Nguyễn Đức Thành] Hàng xa xỉ không phải là thủ phạm gây nên nhập siêu, mà nhập siêu xuất phát từ sự mất cân đối giữa tổng đầu tư và tiết kiệm của cả nền kinh tế. Để kiềm chế nhập siêu cả năm 2010 dưới 20% kim ngạch xuất
khẩu, các nhà làm chính sách đã đưa ra một số biện pháp hành chính như
giảm chỉ tiêu nhập khẩu và gần đây là hạn chế nhập một số mặt hàng tiêu
dùng được coi là xa xỉ như ôtô. Tuy nhiên, liệu nhóm hàng này có phải là
thủ phạm dẫn đến nhập siêu? Hàng tiêu dùng chỉ là thứ yếu Nhìn vào cấu trúc các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam, có thể thấy hàng tư bản (máy móc, thiết bị), nguyên liệu sản xuất (phân bón, hạt nhựa…) và nhiên liệu chiếm đến 3/4 tổng nhập khẩu, chủ yếu để phục vụ quá trình sản xuất. Các mặt hàng tiêu dùng đa phần được xếp vào hạng mục hàng hóa khác, vốn chỉ chiếm một tỉ trọng nhỏ trong cấu trúc nhập khẩu. Nếu nhìn cận cảnh hơn về tỉ trọng nhập khẩu 3 mặt hàng là tân dược, ôtô nguyên chiếc các loại và xe máy trong những năm gần đây thì xe máy nhập khẩu có khuynh hướng giảm rõ rệt, trong khi tân dược và ôtô có chiều hướng tăng lên. Nhưng ngay cả khi ôtô nguyên chiếc sử dụng cho mục đích kinh doanh và sản xuất được xếp vào hạng mục hàng tư bản thì tổng giá trị nhập khẩu ôtô cũng chưa vượt quá 2% tổng giá trị nhập khẩu (ôtô nguyên chiếc được người viết xếp vào hạng mục hàng tư bản vì bản chất lâu bền của nó. Hơn nữa, cũng có một lượng lớn ôtô được nhập khẩu nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh). Và giá trị nhập khẩu ô tô chỉ lớn hơn một chút so với giá trị tân dược nhập khẩu. Những điều trên cho thấy, tập trung chống nhập siêu thông qua việc hạn chế một mặt hàng cụ thể nào đó, ngay cả khi tưởng chừng có giá trị rất cao như ôtô, không phải là giải pháp căn cơ cho vấn đề nhập siêu. Cho dù chúng ta thành công trong việc giảm lượng ôtô nhập khẩu xuống một nửa thì cũng chỉ giảm được tổng giá trị nhập khẩu xuống ít hơn 1%. Trong khi đó, việc hạn chế ôtô nhập khẩu với quy mô lớn sẽ tạo nên sự méo mó trên thị trường và các nhóm lợi ích có liên quan (như các nhà lắp ráp ôtô trong nước) sẽ là những đối tượng được hưởng lợi. Xét ở góc độ điều hành chính sách, cần cân nhắc giữa lợi ích đạt được (giảm gần 1% giá trị nhập khẩu) với những chi phí nền kinh tế phải gánh chịu do những méo mó xuất hiện trên thị trường. Thủ phạm là ai? Truy tìm thủ phạm của nhập siêu phải bắt đầu từ bản chất của nền kinh tế Việt Nam. Trong một nền kinh tế không có thương mại quốc tế, tổng nhu cầu về hàng hóa được trang trải thông qua tổng thu nhập của toàn bộ nền kinh tế đó. Đối với một nền kinh tế mở, có nhập siêu đồng nghĩa với việc tổng nhu cầu về hàng hóa của nền kinh tế vượt quá sức cung ứng của nền kinh tế. Vì thế, cần nhập khẩu ròng hàng hóa và dịch vụ từ bên ngoài. Để có được sự cân bằng, phần hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu ròng này phải được tài trợ thông qua một dòng vốn từ nước ngoài (có thể dưới dạng đi vay hoặc tiếp nhận vốn đầu tư). Xét ở góc độ cân đối vĩ mô, tổng đầu tư trong nước (một thành phần của tổng cầu của nền kinh tế) không chỉ được bù đắp bằng tiết kiệm trong nước, mà còn bằng tiết kiệm của nước ngoài (vốn đầu tư nước ngoài). Đây chính là sự cân đối căn bản xuất hiện đồng thời với trạng thái nhập siêu. Bởi lẽ, trên thực tế, nhập siêu chỉ là mặt hiện ra, dễ dàng quan sát được của cùng một vấn đề chung của nền kinh tế, mà mặt khuất của nó, vốn khó quan sát hơn, là hiện tượng tổng đầu tư vượt quá khả năng tiết kiệm của nền kinh tế đó. Vì thế, đối với các nhà kinh tế vĩ mô, sự mất cân đối về thương mại có bản chất từ mất cân đối giữa đầu tư và tiết kiệm trong nội bộ nền kinh tế, chứ không phải bắt nguồn từ sự ưa thích nhất thời một số mặt hàng nước ngoài nào đó. Điều này lý giải vì sao nhập khẩu của Việt Nam lại chủ yếu là hàng tư bản và nguyên liệu phục vụ sản xuất. Bởi lẽ, khi các dòng vốn chảy vào để tài trợ cho phần nhu cầu đầu tư vượt quá phần vốn tự có trong nước (tổng tiết kiệm), chúng không chỉ thuần túy là tiền, còn là khoản đầu tư cụ thể, mà trong đa số trường hợp là dưới dạng hàng hóa nhập khẩu phục vụ sản xuất (mục đích của việc đầu tư). Do đó, mới có chuyện đầu tư nước ngoài tăng thì nhập khẩu cũng tăng theo. Nói như vậy cũng không có nghĩa là nhập khẩu chỉ tăng vì có đầu tư nước ngoài. Nhập khẩu tăng còn do nhu cầu đầu tư trong nước tăng (có thể đến từ khu vực kinh tế tư nhân, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài hay nhà nước). Đối với một quốc gia đang ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển, tích lũy hàng tư bản còn thấp thì việc nhập khẩu hàng tư bản để nâng cao khả năng sản xuất là điều dễ hiểu. Điều quan trọng là việc hình thành hàng tư bản, hay quá trình đầu tư, có nâng cao được khả năng sản xuất trong tương lai hay không. Như vậy, điểm cốt lõi của vấn đề nằm ở hiệu quả đầu tư của toàn bộ nền kinh tế như thế nào. Rõ ràng, bản chất của nhập siêu bắt nguồn từ việc nhu cầu tích lũy, đầu tư trong giai đoạn hiện nay của Việt Nam lớn hơn nhiều so với khả năng tiết kiệm hay cung ứng nguồn vốn từ nội bộ nền kinh tế. Do đó, những biện pháp chống nhập siêu mang tính hành chính và hướng tới tiết chế một số mặt hàng tiêu dùng không phải là giải pháp gốc rễ của vấn đề. Khi thừa nhận nhập siêu là hiện tượng đi liền với một giai đoạn phát triển của nền kinh tế, chúng ta sẽ thấy được chìa khóa giải quyết vấn đề. Đó là tăng khả năng tiết kiệm và huy động nguồn lực từ nội bộ nền kinh tế, đồng thời tiết chế đầu tư vào những công trình không có hiệu quả. Điều này sẽ giúp thu hẹp khoảng cách giữa cân đối tiết kiệm và đầu tư của toàn bộ nền kinh tế, từ đó nhập siêu sẽ giảm xuống. Cần lưu ý rằng, việc chấp nhận đầu tư vượt quá tiết kiệm trong một thời gian tương đối dài (tức nhập siêu) phải đi liền với nguyên tắc là khoản đầu tư phải thực sự có hiệu quả, có thể giúp tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế trong dài hạn. Ví dụ, cơ sở hạ tầng được xây dựng cần dựa trên mức chi phí thấp nhất có thể, trong khi khả năng sử dụng là hữu hiệu và bền vững nhất. Đây chính là biện pháp thực dụng để thu hẹp khoảng cách giữa tiết kiệm và đầu tư, làm giảm nhập siêu một cách có hiệu quả.
|
| < Trước | Tiếp > |
|---|