VEPR trên báo chí
Suy nghĩ về sự phát triển dựa trên các tập đoàn | Suy nghĩ về sự phát triển dựa trên các tập đoàn |
|
|
|
[Tuổi trẻ - 19/7/2010 - Nguyễn Đức Thành] Những sự kiện gần đây liên quan quá trình tái cấu trúc của một số tập
đoàn kinh tế đã đặt ra một loạt câu hỏi về trách nhiệm quản trị, tầm
nhìn chính sách và rộng hơn là tính bền vững của mô hình kinh tế tập
đoàn hiện nay ở nước ta.
Vinashin chỉ là trường hợp điển hình của một tập đoàn không may mắn. Nếu không có cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu, những ưu ái Vinashin được hưởng có thể khiến tập đoàn này vẫn cân đối được khoản thu để bù đắp khoản chi. Nhưng hiệu quả kinh tế thật sự không chỉ đo lường ở mức độ không bị vỡ nợ mà cần phải so sánh trong khả năng khác, khi những khoản vốn khổng lồ được dùng trong một trường hợp khác và mang lại lợi nhuận lớn hơn. Trên thực tế, đa số các tập đoàn không bị đẩy tới tình trạng của Vinashin, vì thế chúng ta thật sự không có nhiều cơ hội để đặt một câu hỏi rộng lớn hơn nhiều, liên quan đến hiệu quả thật sự của tất cả các tập đoàn kinh tế hiện nay. Vào lúc này, có rất nhiều lý luận để biện minh sự tồn tại của các tập đoàn lớn của Việt Nam, nhất là khi Việt Nam cảm thấy nhu cầu tăng cao sức cạnh tranh quốc tế. Về bản chất, như có thể thấy rõ trong trường hợp Vinashin, mô hình tập đoàn lớn hiện nay có ý nghĩa như là phương tiện tích tụ tư bản một cách nhân tạo, thông qua sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước nhằm tạo ra bước nhảy vọt không thông qua quá trình tích lũy tự nhiên như trong khu vực tư nhân. Tuy nhiên do bị tích lũy một cách nhân tạo, cấu trúc của hệ thống cũng mang tính nhân tạo, gượng ép nên thường không đạt được sự đồng bộ, nhuần nhuyễn mà một tổ chức hữu cơ cần có. Sự thiếu đồng bộ này thể hiện qua năng lực quản lý, khả năng ra quyết định (năng lực đầu tư), mức độ kiểm soát... Thiếu những năng lực này, doanh nghiệp thường khó đối phó được trước những rủi ro của thị trường, đặc biệt thị trường toàn cầu. Có thể nói đây là mâu thuẫn căn bản của mô hình: các tập đoàn cần có quy mô lớn để đủ điều kiện tham gia thị trường toàn cầu nhưng lại không hội đủ sự nhạy bén, tinh khôn, linh hoạt và thực tế để ứng phó với những rủi ro toàn cầu. Lịch sử thế giới cho thấy đa số doanh nghiệp toàn cầu đều trải qua một quá trình trưởng thành tự nhiên và lâu dài, trên cơ sở đó tạo được những cơ chế tự duy trì, tự tái tạo liên tục và bền vững. Trong một số nước phát triển sau, như trường hợp của Đức và Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, một số doanh nghiệp lớn được hình thành nhờ sự hỗ trợ của nhà nước đã trưởng thành nhanh chóng nhờ những điều kiện quốc tế đặc biệt (như chiến tranh), nhưng sau đó đều phải có sự chuyển đổi và cải cách theo hướng tư nhân hóa để nhà nước có thể rút khỏi hoạt động trực tiếp tại doanh nghiệp. Chừng nào còn sự hiện diện của nhà nước trong các doanh nghiệp này thì những mâu thuẫn lớn như sự tách bạch giữa quyền đại diện sở hữu và quyền điều hành, giữa nhu cầu và khả năng giám sát đều dẫn tới những lỗ hổng đẩy cá nhân chạy theo các hoạt động trục lợi ngắn hạn, làm suy giảm hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năng ứng phó của doanh nghiệp. NGUYỄN ĐỨC THÀNH
|
|||
| < Trước | Tiếp > |
|---|