Tìm kiếm
Chủ Nhật, 31/05/2020 04:13

TS Nguyễn Đức Thành: ‘Khi nhu cầu gạo thế giới tăng, Việt Nam nên tranh thủ đón sóng’

08:00:10 01/01/1970

(VNF) – TS Nguyễn Đức Thành, thành viên Liên minh Chính sách Nông nghiệp Việt Nam, cho rằng gạo là mặt hàng Việt Nam có thể chủ động nguồn cung trong những chu trình ngắn hạn (3-4 tháng). Do vậy khi nhu cầu gạo thế giới đột ngột tăng cao, Việt Nam nên tranh thủ đón ít nhất là làn sóng đầu tiên.

https://vietnamfinance.vn/ts-nguyen-duc-thanh-khi-nhu-cau-gao-the-gioi-tang-viet-nam-nen-tranh-thu-don-song-20180504224236367.htm

TS Nguyễn Đức Thành: ‘Khi nhu cầu gạo thế giới tăng, Việt Nam nên tranh thủ đón sóng’

TS Nguyễn Đức Thành: ‘Khi nhu cầu gạo thế giới tăng, Việt Nam nên tranh thủ đón sóng’

Như VietnamFinance đã thông tin, Tổng cục Hải quan mới đây đã có văn bản yêu cầu các Cục Hải quan tỉnh/thành dừng đăng ký, tiếp nhận và thông quan đối với các lô hàng các loại gạo xuất khẩu dưới mọi hình thức kể từ 0 giờ ngày 24/3.

Nhưng ngay sau khi có “lệnh” dừng xuất khẩu gạo, Bộ trưởng Bộ Công Thương lại gửi công văn lên Thủ tướng, đề nghị cho tiếp tục xuất khẩu mặt hàng này.

Bình luận về sự phản ứng trái ngược trong thời gian rất ngắn của các cơ quan Chính phủ về việc xuất khẩu gạo, TS Nguyễn Đức Thành  cho rằng việc ban hành chính sách có phần vội vã.

Theo ông Thành, 12 năm trước, thị trường gạo cũng có những biến động lớn về nhu cầu và giá cả. Năm đó, giá gạo thế giới tăng cao từ đầu năm và đến khoảng tháng 4-5 thì giá tăng dữ dội (theo thống kê của GSO, chỉ trong 1 tháng, từ tháng 4 sang tháng 5, giá gạo trong nước đã tăng thêm 36%). Giá gạo thế giới cũng tăng chóng mặt và nguy cơ thiếu hụt gạo hiện hữu toàn cầu.

Khi đó, Việt Nam đã vội vã đóng cửa thị trường xuất khẩu gạo để bảo vệ thị trường trong nước. Sau khi cơn sốt gạo qua đi, mọi việc trở lại bình thường, thậm chí giá gạo lại xuống thấp theo các chu kỳ lên xuống của ngành hàng nông nghiệp.

Giới kinh doanh đánh giá Việt Nam đã đánh mất một cơ hội xuất khẩu gạo với khối lượng lớn và giá rất tốt. Sau này, nhiều chuyên gia cũng đánh giá rằng ở Việt Nam, gạo là mặt hàng mà nguồn cung có thể được bổ sung sau 3-4 tháng, nên việc lo sợ quá mức về thiếu hụt nguồn cung đã dẫn tới việc đánh mất cơ hội cho cả người sản xuất lúa gạo (nông dân) lẫn các nhà xuất khẩu.

Trong thông báo ngày 23/3/2020, Chính phủ cũng có đề cập tới nguy cơ giá gạo tăng cao có thể đẩy lạm phát lên cao, gây bất ổn kinh tế vĩ mô. Điều này dường như đã xảy ra vào năm 2008. Tuy nhiên, ông Thành nhấn mạnh lạm phát phi mã của năm 2008 thực chất bắt nguồn từ chính sách tiền tệ sai lầm vào cuối năm 2007, do không trung hòa lượng USD đã được mua vào ồ ạt trước đó. Việc lạm phát tiền tệ là thùng dầu tạo nên ngọn lửa lạm phát 2008, chứ không phải giá gạo cao năm đó.

“Năm nay, nếu giả sử giá gạo tăng 30% liên tục trong nửa năm thì đóng góp của nó vào mức tăng CPI có lẽ chỉ khoảng 1,5%, hoàn toàn chấp nhận được trong bối cảnh lạm phát của Việt Nam được kiểm soát tương đối tốt trong những năm qua (chủ yếu do chính sách tiền tệ chặt chẽ)”, ông Thành nhận định.

Ông Thành cho rằng vì gạo là mặt hàng Việt Nam có thể chủ động nguồn cung trong những chu trình ngắn hạn (3-4 tháng) nên khi nhu cầu lúa gạo thế giới đột ngột tăng cao, Việt Nam nên tranh thủ đón ít nhất là sóng đầu tiên.

“Việt Nam nên bình tĩnh, chủ động với đợt sóng tăng giá/tăng lượng mua này và xuất khẩu gạo theo làn sóng đó để thu lợi nhuận. Giá cả và nhu cầu có thể tăng dần, thậm chí tăng mạnh, trong các tháng 4-5, chúng ta vẫn nên chủ động đi theo con sóng đó”, ông Thành khuyến nghị.

Tất nhiên khi giá xuất khẩu tăng, giá gạo trong nước cũng có khuynh hướng tăng theo. Nhưng ông Thành cho rằng việc tăng giá gạo nội địa cơ bản là lợi nhiều hơn hại, vì tầng lớp được hưởng lợi căn bản vẫn là nông dân và ngành nông nghiệp. Các nhóm khác có thể bị thiệt vì giá gạo tăng lên, nhưng gạo chỉ chiếm một tỷ trọng tương đối nhỏ trong ngân sách của họ.

Theo ông Thành, nếu đến mùa sau, khi việc cung ứng gạo trong nước có dấu hiệu mất cân đối trầm trọng, đặc biệt với tình hình sản lượng giảm do điều kiện thời tiết (nhưng sản lượng này vẫn sẽ luôn luôn lớn hơn tổng lượng tiêu thụ nội địa), thì lúc đó mới cần cân nhắc điều tiết xuất khẩu.

“Tôi muốn nhấn mạnh là điều tiết xuất khẩu thôi, còn việc đóng cửa thị trường xuất khẩu là một tình huống cực đoan. Vì về nguyên tắc, do sản lượng gạo của nước ta luôn vượt quá cầu trong nước, nên việc đóng cửa thị trường xuất khẩu thực chất sẽ chắc chắn bảo đam an ninh lương thực và bình ổn giá gạo (nhưng sẽ phải đối phó với vấn nạn xuất khẩu lậu hết sức mãnh liệt)”, ông Thành cho hay.

Đảm bảo an ninh lương thực: Giải pháp nào cũng có mặt trái

Theo ông Nguyễn Minh Đức, chuyên gia pháp chế của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), có rất nhiều biện pháp chính sách để giúp bảo đảm an ninh lương thực như: cấm xuất khẩu gạo, duy trì diện tích lớn đất trồng lúa, dự trữ bắt buộc...

Các biện pháp này giúp bảo đảm an ninh lương thực, nhưng cũng đi kèm với cái giá không hề nhỏ.

Cụ thể, việc cấm xuất khẩu gạo có thể giúp giải quyết vấn đề an ninh lương thực trong ngắn hạn nhưng cũng có nhiều tác động xấu. Tác động đầu tiên là làm giảm giá lúa gạo trong nước, khiến người nông dân chịu thiệt hại còn người tiêu dùng thì lại được mua gạo giá rẻ. Tiếp đó là ảnh hưởng đến doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo khi mà không bán được hàng, mất hợp đồng với đối tác. Cuối cùng là ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế với các nước mua gạo và có thể sẽ bị trả đũa bằng cách khác.

Biện pháp duy trì diện tích đất trồng lúa là biện pháp dài hạn nhằm bảo đảm cung lúa gạo luôn dư thừa. Nhưng cái gì thừa cũng đều rẻ mạt. Tương tự như trên, việc duy trì diện tích trồng lúa lớn khiến nông dân thiệt hại còn công nhân, thị dân thì được hưởng lợi vì giá lúa gạo thấp.

Biện pháp dự trữ bắt buộc giúp bảo đảm an ninh lương thực nhưng đổi lại là tốn kém chi phí lưu kho và tổn thất cả số lượng lẫn chất lượng gạo. Nhà nước hiện không chịu chi phí này mà bắt các doanh nghiệp xuất khẩu gạo phải chịu thông qua quy định dự trữ lưu thông 5% sản lượng 6 tháng.

Bình luận
Gửi bình luận của bạn
Mã xác nhận
Captcha image